Cuộc đời và sự nghiệp của Lee Chong Wei

Lee Chong Wei (tiếng Trung: 李宗偉; Hán-Việt: Lý Tông Vỹ, sinh ngày 21 tháng 10 năm 1982 tại Bagan Serai, Perak) là một tay vợt cầu lông chuyên nghiệp người Malaysia gốc Hoa với tư cách tay vợt đánh đơn đã xếp hạng nhất 199 tuần liên tiếp từ 21 tháng 8 năm 2008 tới 14 tháng 6 năm 2012 trên bảng xếp hạng của Liên đoàn cầu lông Thế giới., Lý Tông Vỹ. Anh là tay vợt người Malaysia thứ ba đạt được thứ hạng như vậy sau Rashid Sidek và Roslin Hashim (từ khi có xếp hạng chính thức từ những năm 1980), và là tay vợt Malaysia duy nhất xếp hạng nhất hơn một năm.

 

Lee Chong Wei giành huy chương bạc tại 3 kỳ Thế vận hội Mùa hè 2008, 2012 và 2016, trở thành người Malaysia thứ 6 giành được huy chương tại Thế vận hội. Anh cũng trở thành người Malaysia đầu tiên vào tới chung kết một trận cầu lông đơn nam và chấm dứt cơn khát huy chương của Malaysia tại Thế vận hội kể từ 1996. Thành tích này cũng giúp anh được nhận danh hiệu Datuk, và Thủ tướng Malaysia Najib Tun Razak gọi anh là một người hùng dân tộc. Anh lặp lại thành tích đó 4 năm sau tại Luân Đôn, điều đó giúp anh trở thành vận động viên Malaysia thành công nhất tại Olympic trong lịch sử.

Cuộc sống cá nhân:

Lúc còn nhỏ, Lee Chong Wei yêu thích bóng rổ, tuy nhiên mẹ anh sớm cấm anh chơi do sức nóng tại sân bóng rổ ngoài trời. Anh bắt đầu học chơi cầu lông năm 11 tuổi, khi người bố yêu thích cầu lông của anh đưa anh tới nhà thi đấu cầu lông. Một huấn luyện viên để ý đến anh, và đề nghị với bố anh về việc nhận anh làm học trò. Sau khi được bố anh đồng ý, huấn luyện viên bắt đầu dạy cầu lông cho anh sau giờ học. Được Misbun Sidek phát hiện, anh được vào tuyển quốc gia khi 17 tuổi.

Ngày 3 tháng 11 năm 2006, Lee Chong Wei gặp một tai nạn xe hơi. Trên đường tới Bukit Jalil sau bữa tối, anh bị một chiếc xe đâm phải do chiếc xe bị mất lái do thủng lốp. Anh được đưa tới Trung tâm Y tế Sunway và phải khâu chấn thương 6 mũi.

Lee Chong Wei được nhận 300.000 RM vào ngày 21 tháng 8 năm 2008, một phần thưởng cho chiếc huy chương bạc tại Thế vận hội 2008. Anh cũng được nhận 3.000 RM trợ cấp trọn đời mỗi tháng từ tháng 8 năm 2008. Cũng nhờ thành tích đó, anh được Thống đốc Penang Tun Abdul Rahman Abbas trao một huy chương Darjah Setia Pangkuan Negeri (DSPN), và kèm với huy chương là danh hiệu Datuk vào ngày 30 tháng 8 năm 2008.

Anh được bổ nhiệm làm Đại sứ quốc gia của UNICEF Malaysia vào tháng 2 năm 2009.

Ngày 6 tháng 6 năm 2009,Lee Chong Wei được nhận huy chương Darjah Bakti (DB), từ Tuanku Mizan Zainal Abidin, trùng với sinh nhật của Seri Paduka Baginda Yang di-Pertuan Agong, cho thành tích của anh tại Thế vận hội 2008. Anh từng hẹn hò với Hoàng Diệu Châu, đồng đội của anh. Năm 2009, Lee Chong Wei và Hoàng Diệu Châu công bố chia tay khi Giải vô địch cầu lông thế giới đang diễn ra ở Hyderabad, Ấn Độ. Tuy nhiên, anh tuyên bố hòa giải với Hoàng Diệu Châu sau khi giành huy chương bạc tại Thế vận hội mùa hè 2012. Họ kết hôn vào ngày 9 tháng 11 năm 2012, và sinh con đầu lòng, Kingston (Lý Gia Khiêm) vào tháng 4 năm 2013.

 

Ngày 16 tháng 3 năm 2011, Lee Chong Wei được nhận cổ phần của Permodalan Nasional Berhad trị giá 100,000 MYR từ Najib Tun razak ngay sau chiến thắng của anh tại giải Toàn Anh Mở rộng. Anh được bổ nhiệm làm đại sứ của Đại học KDU ngày 31 tháng 7 năm 2011.

Cuốn tự truyện của Lee Chong Wei Dare to be a Champion (tạm dịch nghĩa: Dám ước mơ thành nhà vô địch) đã được phát hành chính thức ngày 18 tháng 1 năm 2012.

Sự nghiệp lẫy lừng:

2002–2007:
Lý Tông Vỹ chỉ giành danh hiệu duy nhất vào năm 2002 và 2003, tiến tới trận chung kết Malaysia Mở rộng 2003 (trận chung kết đầu tiên tại một giải đấu lớn của anh) và bị Trần Hoành của Trung Quốc đánh bại.

Lee Chong Wei giành hai danh hiệu trong năm 2004, Malaysia Mở rộng và Trung Hoa Đài Bắc Mở rộng. Anh giành được suất tham sự Thế vận hội 2004 ở Athens. Trong lần đầu tiên tham dự Thế vận hội, anh đã đánh bại Ngô Úy của Hồng Kông ở vòng đầu tiên. Anh dừng bước ở vòng hai khi thất bại trước Trần Hoành. Lee Chong Wei giành hai danh hiệu khác trong năm 2005, danh hiệu Malaysia Mở rộng thứ hai và Đan Mạch Mở rộng 2005. Lee Chong Wei giành huy chương đồng trong lần đầu tham dự giải Cầu lông vô địch Thế giới, vào năm 2005, sau khi để thua nhà vô địch của giải đấu đó Taufik Hidayat trong trận bán kết.

Lee Chong Wei giành ba danh hiệu trong sáu trận chung kết anh tham dự năm 2006. Anh vô địch giải Thụy Sĩ Mở rộng, giải Vô địch cầu lông châu Á và giành danh hiệu Malaysia Mở rộng thứ ba của mình. Anh cũng vào tới chung kết Trung Hoa Đài Bắc Mở rộng, Ma Cao Mở rộng và Hồng Kông Mở rộng. Tại giải Malaysia Mở rộng, Lee Chong Wei vượt lên khi bị Lâm Đan dẫn 13-20 khi ghi 8 điểm quyết định trận đấu (match point), và cuối cùng thắng trận thi đấu đó với tỉ số 23-21 và giành danh hiệu. Lee Chong Wei giành hai huy chương vàng cầu lông tại Đại hội thể thao Thịnh vượng chung 2006, cả ở hạng mục đơn nam và đồng đội. Lee Chong Wei hai lần đạt tới thứ hạng cao nhất trên bảng xếp hạng của Liên đoàn Cầu lông Thế giới trong năm 2006, và anh tham dự Giải vô địch thế giới 2006 với tư cách tay vợt hạt giống. Tuy nhiên, anh đã thất bại trước Bào Xuân Lai của Trung Quốc ở vòng tứ kết mặc dù anh từng thắng trong lần đối đầu trước đó. Trong trận đấu này, có hai pha xử lý gây tranh cãi của trọng tài trong hai pha cầu gần đường biên gây bất lợi cho Lee.

Mùa giải 2007 chứng kiến việc Lee Chong Wei không vào được chung kết Malaysia Mở rộng lần đầu tiên trong 5 năm. Anh cũng bị loại sớm tại năm giải đấu sau đó. Cuối mùa giải đó anh giành danh hiệu tại Indonesia Mở rộng, danh hiệu đầu tiên của anh kể từ Malaysia Mở rộng 2006 sau khi tái hợp với huấn luyện viên cũ Misbun Sidek, trước đó là Li Mao (Lý Mâu). Màn trình diễn của anh nửa cuối năm đó rất mạnh mẽ, anh giành ba danh hiệu tại các giải Philippines Mở rộng, Nhật Bản Mở rộng, và Pháp Mở rộng. Anh cũng vào tới chung kết Trung Quốc Mở rộng và Hồng Kông Mở rộng, bất chấp chấn thương đầu gối ảnh hưởng đến anh trong cả hai giải đấu. Lee Chong Wei chiến thắng tất cả những trận đấu mà anh tham dự tại Cúp Sudirman vào tháng 6, mặc dù đội Malaysia chỉ xếp thứ 5 tại giải đấu này. Lee Chong Wei thi đấu mờ nhạt tại giải Vô địch Thế giới, mặc dù giải đấu được tổ chức ngay tại quê nhà anh và màn trình diễn ở nửa cuối năm 2007 là rất tốt, anh đã bị tay vợt người Indonesia Sony Dwi Kuncoro đánh bại tại vòng ba. Lee Chong Wei đã chỉ trích huấn luyện viên trưởng Diệp Cẩm Phúc sau thất bại đó khi nói rằng Diệp Cẩm Phúc đã đối xử lạnh nhạt với anh và gây áp lực với anh trước giải đấu.

2008:

Lee Chong Wei ở trong trận bán kết tại Thế vận hội 2008
Lee Chong Wei khởi đầu năm 2008 bằng những thành công, giành danh hiệu Malaysia Mở rộng thứ tư trong vòng 5 năm. Dù tham dự nhiều giải đấu khác nhưng anh chỉ giành thêm được một danh hiệu khác là Singapore Mở rộng, giải đấu cuối cùng của anh trước Thế vận hội. Anh tham dự những giải đấu khác như Hàn Quốc Mở rộng; Toàn Anh Mở rộng; Thụy Sĩ Mở rộng; giải Vô địch Cầu lông châu Á; và Cúp Thomas tại Jakarta, Indonesia- giải đấu mà Lý Tông Vỹ giúp Malaysia giành lợi thế trong trận bán kết khi anh đánh bại Lâm Đan giúp Malaysia dẫn 1–0 trong cuộc đối đầu với đương kim vô địch Trung Quốc. Tuy nhiên, cuối cùng Malaysia đã thua 2–3 do cặp đôi của họ thua trong trận đấu quyết định.

Tại Thế vận hội 2008, đối thủ tại vòng đầu của Lee Chong Wei đã bỏ cuộc. Anh chiến thắng nhẹ nhàng trước Ronald Susilo tại vòng hai, Kęstutis Navickas tại vòng ba,[41] và Sony Dwi Kuncoro ở tứ kết. Tại vòng bán kết Lee Hyun-il khiến anh gặp khó khăn, nhưng cuối cùng Lý Tông Vỹ đã đánh bại tay vợt Hàn Quốc và tiến vào chung kết. Tuy nhiên, đó là một trận chung kết một chiều, khi Lee Chong Wei hoàn toàn bị Lin Đan áp đảo, anh chỉ ghi được tổng cộng 20 điểm, và thất bại 12–21, 8–21. Anh xếp thứ hai chung cuộc.

Lee Chong Wei tham dự hàng loạt giải đấu sau Thế vận hội nhưng không giành được danh hiệu nào. Anh từng vào tới chung kết Nhật Bản Mở rộng, Ma Cao Mở rộng và Trung Quốc Mở rộng, nhưng thất bại lần lượt trước Sony Dwi Kuncoro, Taufik Hidayat, và Lin Đan. Tại giải Pháp Mở rộng, Lee Chong Weibị loại ở bán kết. Huấn luyện viên của anh, Misbun Sidek, viện dẫn áp lực từ vị trí số một trên bảng xếp hạng thế giới để giải thích cho thành thích kém trong thời gian đó của Lee Chong Wei.

Lee Chong Wei kết thúc giải đấu Super Series cuối cùng trong năm của anh, Hồng Kông Mở rộng, với việc bất ngờ bỏ cuộc do chấn thương đầu gối, nhường chiến thắng dễ dàng cho tay vợt người Đức Marc Zwiebler. Việc bỏ cuộc ở phút chót dẫn đến việc truyền thông Trung Quốc gọi anh là “số một thế giới yếu đuối nhất” (thủy hóa nhất ca). Truyền thông Trung Quốc cũng suy đoán rằng có ba yếu tố cản trở khả năng của Lee Chong Wei kể từ Thế vận hội. Họ liệt kê những yếu tố bao gồm áp lực từ trận chung kết tại Thế vận hội, sự ám ảnh từ Lin Dan do thất bại của anh tại Thế vận hội dưới tay của Lin Đan, và (lặp lại phỏng đoán của Misbun Sidek) sức ép từ vị trí số một thế giới.

 

Bất chấp sự khó khăn của Lee Chong Wei khi thi đấu quốc tế trong thời gian đó, anh giành danh hiệu Grand Prix Final thứ bảy liên tiếp ở Kedah vào ngày 12 tháng 12 năm 2008, nhờ đó phá kỉ lục sáu lần vô địch liên tiếp của Misbun Sidek. Lee Chong Wei kết thúc năm đó với một danh hiệu Super Series Masters Finals. Tuy nhiên, Lin Đan và các tay vợt hàng đầu Trung Quốc không thi đấu, do chấn thương và mệt mỏi.

2009:
Lee Chong Wei khởi đầu mùa giải 2009 với danh hiệu Malaysia Mở rộng thứ năm. Anh thất bại trong việc giành danh hiệu Hàn Quốc Mở rộng và Toàn Anh Mở rộng đầu tiên bất chấp việc tiến tới trận chung kết. Tuy nhiên, anh giành được danh hiệu thứ hai trong năm, Thụy Sĩ Mở rộng được tổ chức ở Basel, đánh bại Lin Đan hai game trắng và đánh dấu chiến thắng đầu tiên trước đối thủ người Trung Quốc trong một trận chung kết không phải trên sân nhà. Sau đó, Lee Chong Wei bất ngờ thất bại trước Chen Long của Trung Quốc tại giải Ấn Độ Mở rộng. Anh viện cớ thất bại là do ngộ độc thực phẩm và kêu gọi các nhà chức trách cải thiện các điều kiện thi đấu trước Giải vô địch Thế giới 2009. Vào tháng 5, Lý Tông Vỹ giúp Malaysia vào tới bán kết Cúp Sudirman, lần đầu tiên trong lịch sử quốc gia, mặc dù Lâm Đan chấm dứt chuỗi thành tích bất bại trong giải đấu của anh. Anh giành thêm hai danh hiệu trong tháng 6, Indonesia Mở rộng và Grand Prix Gold Malaysia Mở rộng, song thất bại trong việc bảo vệ danh hiệu Singapore Mở rộng khi anh bị Nguyễn Tiến Minh đánh bại ở vòng hai.

Lee Chong Wei khởi đầu nửa sau của mùa giải với việc thất bại trước Sony Dwi Kuncoro tại Giải vô địch Thế giới, nhưng chiến thắng ở giải Ma Cao Mở rộng vào tháng 8. Anh vào tới bán kết Masters Trung Quốc, nhưng một lần nữa không thể đánh bại địch thủ truyền kiếp Lâm Đan. Sau đó anh tham dự giải Nhật Bản Mở rộng. Anh chỉ vào đến vòng hai của giải này, trước khi thắng giải Hồng Kông Mở rộng vào tháng 11. Anh thể hiện sự mâu thuẫn khi bị loại bất ngờ ở vòng một Trung Quốc Mở rộng. Tháng 12, Lee Chong Wei bảo vệ thành công danh hiệu Super Series Masters Finals, tuy nhiên giải đấu không có sự góp mặt của các tay vợt hàng đầu thế giới.

2010:
Lee Chong Wei bắt đầu với việc giành mọi danh hiệu ở các giải anh tham dự, cú ăn ba danh hiệu Super Series đầu tiên. Anh giành chức vô địch Hàn Quốc Mở rộng đầu tiên, danh hiệu Malaysia Mở rộng lần thứ sáu, và đánh bại Kenichi Tago để vô địch giải đấu lâu đời nhất và danh giá bậc nhất trên thế giới, giải Toàn Anh Mở rộng, danh hiệu Toàn Anh đầu tiên kể từ khi anh tham dự vào năm 2004.

Lee Chong Wei tham dự Cúp Thomas trên sân nhà. Anh đánh bại Kenichi Tago và giành điểm đầu tiên, mặc dù cuối cùng đội Malaysia đã thua (2–3) trước đội Nhật Bản. Ở vòng tứ kết, anh đánh bại Peter Gade, nhờ đó giúp Malaysia vào bán kết. Ở vòng bán kết đối đầu với Trung Quốc, Lý Tông Vỹ đã thất bại trước Lâm Đan, chấm dứt kỉ lục 18 trận bất bại của anh từ đầu năm.

Vào tháng 6, thất bại tại vòng tứ kết Singapore Mở rộng. Tuy nhiên, Lee Chong Wei tỏa sáng trở lại khi vô địch Indonesia Mở rộng, Grand Prix Gold Malaysia Mở rộng vào tháng 7, và Ma Cao Mở rộng vào tháng 8. Cuối tháng 8, Lee Chong Wei bất ngờ bị loại khi đang nỗ lực tại giải Vô địch Thế giới, bị Taufik Hidayat đánh bại ở trận tứ kết. Misbun cho rằng trận thua đó là do chấn thương lưng Lee Chong Wei gặp phải sau trận đấu với Rajiv Ouseph ở vòng ba. Ngày 26 tháng 9, Lee Chong Wei đánh bại địch thủ lớn nhất Lin Dan tại giải Nhật Bản Mở rộng, danh hiệu duy nhất trong giải này không thuộc về các vận động viên Trung Quốc.

Vào tháng 10, anh giúp Malaysia đánh bại Ấn Độ để bảo vệ thành công huy chương vàng đồng đội tại Đại hội thể thao Thịnh vượng chung 2010, sau đó vài ngày anh tiếp tục bảo vệ thành công huy chương vàng đơn nam. Tháng 11 anh giành huy chương bạc tại Đại hội Thể thao châu Á 2010. Mặc dù đánh bại đương kim vô địch thế giới Trần Kim ở bán kết, Lee Chong Wei một lần nữa nếm mùi thất bại trước địch thủ lớn nhất là Lâm Đan trong trận chung kết.[86] Vào cuối mùa giải, anh giành danh hiệu Hồng Kông Mở rộng thứ hai liên tiếp, và danh hiệu Super Series Master Finals thứ ba liên tiếp.

2011:
Vào tháng 1, Lee Chong Wei giành danh hiệu Malaysia Mở rộng thứ bảy khi đánh bại Taufik Hidayat của Indonesia trong trận chung kết.Tuy nhiên, anh không bảo vệ được danh hiệu Hàn Quốc Mở rộng, giải đấu có trị giá 1 triệu đô-la đầu tiên trên thế giới, sau khi bị Lin Đan đánh bại sau ba ván đấu. Tháng 3, Lee Chong Wei vào chung kết Toàn Anh Mở rộng lần thứ ba liên tiếp và bảo vệ thành công danh hiệu một cách thuyết phục trước Lin Đan, và được Thủ tướng Najib Tun Razak tán dương.

Trong Ngày Quốc tế Lao động, anh lần đầu tiên giành danh hiệu Ấn Độ Mở rộng, và cũng giành giải Grand Prix Gold Malaysia Mở rộng một tuần sau đó. Bất chấp việc Lee Chong Wei đã thắng tất cả những trận đấu anh tham dự tại Cúp Sudirman, Malaysia phải dừng bước ở tứ kết, sau khi thất bại trước Hàn Quốc 2–3. Cuối tháng 6, anh giành danh hiệu Indonesia Mở rộng, trở thành người đầu tiên ba lần vô địch giải đấu mà không phải người Indonesia.

Hi vọng trở thành người Malaysia đầu tiên giành huy chương vàng ở giải Vô địch Thế giới của Lee Chong Wei đã không thành khi anh thất bại trước Lâm Đan trong trận chung kết. Lee Chong Wei dẫn trước trong hầu hết thời gian nhưng lại để mất hai điểm quan trọng trong ván quyết định. Vào tháng 9, Lee Chong Wei cũng thất bại trong việc bảo vệ chức vô địch Nhật Bản Mở rộng sau khi thất bại trước ngôi sao đang lên của Trung Quốc Kham Long. Vào tháng 10, một lần nữa Lee Chong Wei thất bại trước Chen Long trong nỗ lực giành danh hiệu Đan Mạch Mở rộng lần thứ hai.[100] Một tuần sau anh vô địch giải Pháp Mở rộng. Sau đó anh thất bại trong 3 trận bán kết tại Hồng Kông Mở rộng, Trung Quốc Mở rộng,[103] và Super Series Master Finals.

2012:

Lee Chong Wei đang thi đấu trong trận bán kết tại Thế vận hội 2012
Lee Chong Wei khởi đầu năm Olympic với danh hiệu Super Series đầu tiên của mùa giải, Hàn Quốc Mở rộng. Anh gặp lại Lâm Đan giống như trận chung kết trước đó, nhưng lần này anh đã phục thù thành công sau 3 ván. Một tuần sau, anh giành danh hiệu Malaysia thứ tám (và thứ năm liên tiếp), nhờ đó ngang bằng với số lần vô địch của Wong Peng Soon (Hoàng Bỉnh Tuyền) giành được giữa các năm 1940 và 1953.

Vào tháng 3, Lee Chong Wei thất bại tại Toàn Anh Mở rộng khi anh phải bỏ cuộc tại ván thứ hai để nhận trợ giúp y tế vì ba nguyên nhân. Điều này đập tan hi vọng trở thành người đầu tiên vô địch 3 giải Toàn Anh Mở rộng liên tiếp của Lee Chong Wei. Tháng 4, anh bị Shon Wan-ho của Hàn Quốc đánh bại trong trận chung kết Ấn Độ Mở rộng, nhưng đã bảo vệ thành công danh hiệu Grand Prix Gold Malaysia Mở rộng lần thứ 4 vào tháng 5. Lee Chong Wei phải nghỉ thi đấu 3 tới 4 tuần do chấn thương mắt cá chân gặp phải khi thi đấu tại bảng C Cúp Thomas với Đan Mạch.

Lee Chong Wei quay lại thi đấu lần đầu tiên kể từ sau khi hồi phục chấn thương để tham gia Thế vận hội London. Anh thắng sát nút Ville Lång của Phần Lan ở vòng đầu tiên, và chịu áp lực vì trận thắng khó khăn. Ở vòng hai, anh thắng nhẹ nhàng tay vợt của Indonesia Simon Santoso, trước khi hạ Kashyap Parupalli của Ấn Độ ở tứ kết. Trong vòng bán kết, anh đánh bại Chen Long của Trung Quốc trong 2 game trắng bất chấp dự đoán rằng Chen Long rất khó bị hạ, và gặp lại Lin Đan trong trận chung kết giống như năm 2008. Đây là lần chạm trán thứ hai tại Wembley Arena đối với cả hai tay vợt kể từ Giải vô địch Thế giới 2011. Lee Chong Wei dẫn trước khi thắng ván thứ nhất nhưng Lâm Đan đưa trận đấu về thế cân bằng. Mặc dù Lee Chong Wei dẫn trước trong hầu hết thời gian của ván thứ ba, Lâm Đan lại san bằng điểm số và hạ anh trong gang tấc 21–19, khiến Lee Chong Wei một lần nữa nhận huy chương bạc. Nhà phân tích thể thao của BBC Gail Emms nói, “Các bạn không thể đòi hỏi nhiều hơn từ Lee Chong Wei.”

Anh thắng giải Nhật Bản Mở rộng và Đan Mạch Mở rộng khi trở lại thi đấu từ sau Thế vận hội London, nhưng đã thất bại trong trận chung kết giải Hồng Kông Mở rộng, chỉ vài ngày sau khi anh kết hôn. Lý Tông Vỹ kết thúc năm 2012 với việc thất bại tại trận mở màn của Super Series Master Finals và sau đó rút khỏi giải đấu do chấn thương đùi.

2013:
Lee Chong Wei giành danh hiệu Hàn Quốc Mở rộng lần thứ ba. Một tuần sau, anh giành danh hiệu Malaysia Mở rộng lần thứ chín, phá vỡ kỉ lục tám lần vô địch trước đó của Hoàng Bỉnh Tuyền. Sau đó Lee Chong Wei thất bại trong trận chung kết Toàn Anh Mở rộng dưới tay Kham Long. Lee Chong Wei cho biết anh thất vọng về màn trình diễn của mình trong giải đấu, bất chấp việc đã lọt vào trận chung kết.

Trong tháng 4, anh thất bại trong trận bán kết giải Úc Mở rộng, trước tay vợt trẻ người Trung Quốc Tian Houwei (Điền Hậu Uy). Sau đó anh giành danh hiệu Ấn Độ Mở rộng lần thứ hai và Indonesia Mở rộng lần thứ năm. Vào tháng 8, Lý Tông Vỹ vào tới trận chung kết Giải vô địch Thế giới, nhưng hi vọng của anh một lần nữa bị dập tắt giống như trận chung kết năm 2011 và chung kết Á vận hội 2010 khi thất bại trước Lin Đan. Anh bị chuột rút chân ở gần cuối ván thứ ba. Sau khi cố gắng tiếp tục thi đấu, anh đã phải bỏ cuộc và sau đó được đưa tới bệnh viện.

Sau giải Vô địch Thế giới, Lee Chong Wei tham gia bốn giải đấu Super Series. Đầu tiên, anh giành được danh hiệu Nhật Bản mở rộng lần thứ tư. Sau đó, anh thua trong trận chung kết Đan Mạch Mở rộng và vòng bán kết Pháp Mở rộng, và lại chiến thắng tại Hồng Kông Mở rộng.

Lee Chong Wei giành kỷ lục với danh hiệu Chung kết Masters lần thứ tư, giải đấu kết thúc Super Series.

2014:
Trong tháng 1, Lee Chong Wei thất bại trung trận chung kết Hàn Quốc Mở rộng trước Chen Long, đây là thất bại thứ tư liên tiếp của anh trước Chen Long. Một tuần sau đó, Lee Chong Wei lần thứ 10 giành danh hiệu vô địch Malaysia Mở rộng. Ngay sau chiến thắng, anh tuyên bố đây là lần thi đấu cuối cùng của anh tại Malaysia Mở rộng, do anh sẽ đáng giá tình trạng của mình sau Á vận hội và có thể giải nghệ nếu kết quả không tốt.

Anh cũng lần thứ ba giành danh hiệu vô địch tại giải Toàn Anh Mở rộng và Ấn Độ Mở rộng. Tuy nhiên, anh thất bại trước Simon Santoso trong trận chung kết Singapore Mở rộng. Lee Chong Wei giành chiến thắng trong mọi trận thi đấu mà anh tham dự tại |Thomas Cup, Malaysia tiến vào chung kết và bại trước Nhật Bản với tỷ số 3-2.

Trong tháng 6, anh giành thắng lợi tại giải Nhật Bản Mở rộng năm thứ ba liên tiếp và là lần thứ 5.Anh thất bại trong trận bát kết của Indonesia Mở rộng, chấm dứt hy vọng của anh về việc chín lần liên tiếp vào chung kết Super Series.

Trong tháng 8, Lee Chong Wei lần thứ ba xếp thứ nhì tại giải vô địch thế giới, thất bại trước Chen Long trong trận chung kết. Anh lại thất bại trước Chen Long trong bán kết đội tuyển Á vận hội Incheon, và thất bại trước Lin Đan trong bán kết đơn vài ngày sau đó.

Doping: 

Trong tháng 10 năm 2014, truyền thông Malaysia tường thuật rằng Hiệp hội cầu lông Malaysia xác nhận rằng một trong những tay vợt hàng đầu của quốc gia có kết quả kiểm tra dương tính với dexamethasone theo các mẫu nước tiểu được lấy trong giải vô địch thế giới 2014 vào cuối tháng 8. Danh tính của tay vợt không được tiết lộ trong tường thuật song sau đó được xác nhận là Lee Chong Wei. Dexamathasone không phải là một loại thuốc làm tăng thành tích mà là một corticosteroid kháng viêm được cung cấp thông dụng và không phải là bất hợp pháp khi được sử dụng trong thời gian nghỉ thi đấu nhằm phục hồi chấn thương, song được cho là bất hợp pháp nếu bị phát hiện trong cơ thể của vận động viên trong khi thi đấu.

Ngày 5 tháng 11, Lee Chong Wei đi máy bay sang Na Uy nhằm chứng kiếm việc thử nghiệm mẫu “B” của anh tại Bệnh viện Đại hội Oslo, sau khi mẫu “A” đã được kiểm tra với kết quả dương tính trong tháng 10. Kết quả được một quan chức thể thao Malaysia công bố vào ngày 8 tháng 11, người này xác nhận mẫu “B” của Lee Chong Wei cũng có kết quả dương tính. Lee Chong Wei bị đình chỉ thi đấu tạm thời cho đến khi có thông báo mới. Lee Chong Wei đối diện với hai năm cấm thi đấu thể thao song Liên đoàn Cầu lông Thế giới sẽ tổ chức một buổi điều trần để nghe bào chữa của anh.

 

Giải thưởng: 

 

Thành tích:

Thành tích Năm Giải đấu Đối thủ trong trận chung kết Tỉ số
2 2014 Giải vô địch cầu lông thế giới Trung Quốc Chen Long 19–21, 19–21
1 2014 Nhật Bản Mở rộng (5) Hồng Kông Hồ Vân 21–14, 21–12
2 2014 Singapore Mở rộng Indonesia Simon Santoso 15–21, 10–21
1 2014 Ấn Độ Mở rộng (3) Trung Quốc Chen Long 21–13, 21–17
1 2014 Toàn Anh Mở rộng (3) Trung Quốc Chen Long 21–13, 21–18
1 2014 Malaysia Mở rộng (10) Indonesia Tommy Sugiarto 21–19, 21–9
2 2014 Hàn Quốc Mở rộng Trung Quốc Kham Long 14–21, 15–21
1 2013 Chung kết Super Series Masters (4) Indonesia Tommy Sugiarto 21–10, 21–12
1 2013 Hong Kong Mở rộng (3) Indonesia Sony Dwi Kuncoro 21–13, 21–9
2 2013 Đan Mạch Mở rộng Trung Quốc Kham Long 22–24, 19–21
1 2013 Nhật Bản Mở rộng (4) Nhật Bản Kenichi Tago 23–21, 21–17
2 2013 Giải vô địch cầu lông thế giới Trung Quốc Lâm Đan 21–16, 13–21, 17–20r
1 2013 Indonesia Mở rộng (5) Đức Marc Zwiebler 21–15, 21–14
1 2013 Ấn Độ Mở rộng (2) Nhật Bản Kenichi Tago 21–15, 18–21, 21–17
2 2013 Toàn Anh Mở rộng Trung Quốc Kham Long 17–21, 18–21
1 2013 Malaysia Mở rộng (9) Indonesia Sony Dwi Kuncoro 21–7, 21–8
1 2013 Hàn Quốc Mở rộng (3) Trung Quốc Đỗ Bằng Vũ 21–12, 21–15
2 2012 Hồng Kông Mở rộng Trung Quốc Kham Long 19–21, 17–21
1 2012 Đan Mạch Mở rộng (2) Trung Quốc Đỗ Bằng Vũ 15–21, 21–12, 21–19
1 2012 Nhật Bản Mở rộng (3) Thái Lan Boonsak Ponsana 21–18, 21–18
2 2012 Thế vận hội Trung Quốc Lâm Đan 21–15, 10–21, 19–21
1 2012 Malaysia Open Grand Prix Gold (4) Indonesia Sony Dwi Kuncoro 17–21, 21–8, 21–10
2 2012 Ấn Độ Mở rộng Hàn Quốc Shon Wan-ho 18–21, 21–14, 19–21
2 2012 Toàn Anh Mở rộng Trung Quốc Lâm Đan 19–21, 2–6r
1 2012 Malaysia Mở rộng (8) Nhật Bản Kenichi Tago 21–6, 21–13
1 2012 Hàn Quốc Mở rộng (2) Trung Quốc Lâm Đan 12–21, 21–18, 21–14
1 2011 Pháp Mở rộng (2) Nhật Bản Kenichi Tago 21–16, 21–11
2 2011 Đan Mạch Mở rộng Trung Quốc Kham Long 15–21, 18–21
2 2011 Nhật Bản Mở rộng Trung Quốc Kham Long 8–21, 21–10, 19–21
2 2011 Vô địch thế giới Trung Quốc Lâm Đan 22–20, 14–21, 21–23
1 2011 Indonesia Mở rộng (4) Đan Mạch Peter Gade 21–11, 21–7
1 2011 Malaysia Open Grand Prix Gold (3) Trung Quốc Bào Xuân Lai 21–9, 21–19
1 2011 Ấn Độ Mở rộng (1) Đan Mạch Peter Gade 21–12, 12–21, 21–15
1 2011 Toàn Anh Mở rộng (2) Trung Quốc Lâm Đan 21–17, 21–17
2 2011 Hàn Quốc Mở rộng Trung Quốc Lâm Đan 19–21, 21–14, 16–21
1 2011 Malaysia Mở rộng (7) Indonesia Taufik Hidayat 21–8, 21–17
1 2010 Chung kết Super Series Masters Finals (3) Đan Mạch Peter Gade 21–9, 21–14
1 2010 Hồng Kông Mở rộng (2) Indonesia Taufik Hidayat 21–19, 21–9
2 2010 Á vận hội Trung Quốc Lâm Đan 13–21, 21–15, 10–21
1 2010 Đại hội Thể thao Thịnh vượng chung (2) Anh Rajiv Ouseph 21–10, 21–8
1 2010 Nhật Bản Mở rộng (2) Trung Quốc Lâm Đan 22–20, 16–21, 21–17
1 2010 Macau Open Grand Prix Gold (2) Hàn Quốc Lee Hyun-il không thi đấu
1 2010 Malaysia Open Grand Prix Gold (2) Malaysia Hoàng Tôn Hàn 21–8, 14–21, 21–15
1 2010 Indonesia Mở rộng (3) Indonesia Taufik Hidayat 21–19, 21–8
1 2010 Toàn Anh Mở rộng (1) Nhật Bản Kenichi Tago 21–19, 21–19
1 2010 Malaysia Mở rộng (6) Thái Lan Boonsak Ponsana 21–13, 21–7
1 2010 Hàn Quốc Mở rộng (1) Đan Mạch Peter Gade 21–12, 21–11
1 2009 Chung kết Super Series Masters (2) Hàn Quốc Park Sung-hwan 21–17, 21–17
1 2009 Hồng Kông Mở rộng (1) Đan Mạch Peter Gade 21–13, 13–21, 21–16
1 2009 Macau Open Grand Prix Gold (1) Malaysia Hoàng Tông Hàn 21–15, 21–19
1 2009 Malaysia Open Grand Prix Gold (1) Trung Quốc Kham Long 21–16, 21–9
1 2009 Indonesia Mở rộng (2) Indonesia Taufik Hidayat 21–9, 21–14
1 2009 Thụy Sĩ Mở rộng (2) Trung Quốc Lâm Đan 21–16, 21–16
2 2009 Toàn Anh Mở rộng Trung Quốc Lâm Đan 19–21, 12–21
2 2009 Hàn Quốc Mở rộng Đan Mạch Peter Gade 18–21, 21–10, 17–21
1 2009 Malaysia Mở rộng (5) Hàn Quốc Park Sung-hwan 21–14, 21–13
1 2008 Chung kết Super Series Masters (1) Đan Mạch Peter Gade 21–8, 21–16
2 2008 Trung Quốc Mở rộng Trung Quốc Lâm Đan 18–21, 9–21
2 2008 Macau Open Grand Prix Gold Indonesia Taufik Hidayat 19–21, 15–21
2 2008 Nhật Bản Mở rộng Indonesia Sony Dwi Kuncoro 17–21, 11–21
2 2008 Thế vận hội Trung Quốc Lâm Đan 12–21, 8–21
1 2008 Singapore Mở rộng Indonesia Simon Santoso 21–13, 21–5
2 2008 Thụy Sĩ Mở rộng Trung Quốc Lâm Đan 13–21, 18–21
1 2008 Malaysia Mở rộng (4) Hàn Quốc Lee Hyun-il 21–15, 11–21, 21–17
2 2007 Hồng Kông Mở rộng Trung Quốc Lâm Đan 21–9, 15–21, 15–21
2 2007 Trung Quốc Mở rộng Trung Quốc Bào Xuân Lai 12–21, 13–21
1 2007 Pháp Mở rộng (1) Trung Quốc Bào Xuân Lai 21–11, 21–14
1 2007 Nhật Bản Mở rộng (1) Indonesia Taufik Hidayat 22–20, 19–21, 21–19
1 2007 Philippines Mở rộng Trung Quốc Trần Hoành 21–9, 21–15
1 2007 Indonesia Mở rộng (1) Trung Quốc Bào Xuân Lai 21–15, 21–16
2 2006 Hồng Kông Mở rộng Trung Quốc Lâm Đan 19–21, 21–8, 16–21
2 2006 Ma Cao Mở rộng Trung Quốc Lâm Đan 18–21, 21–18, 18–21
2 2006 Trung Hoa Đài Bắc Mở rộng Trung Quốc Lâm Đan 18–21, 21–12, 11–21
1 2006 Malaysia Mở rộng (3) Trung Quốc Lâm Đan 21–18, 18–21, 23–21
1 2006 Vô địch châu Á Thái Lan Boonsak Ponsana 21–12, 21–16
1 2006 Đại hội Thể thao Thịnh vượng chung (1) Malaysia Hoàng Tông Hàn 21–13, 21–12
1 2006 Thụy Sĩ Mở rộng (1) Trung Quốc Hạ Huyên Trạch 15–8, 15–0
1 2005 Đan Mạch Mở rộng (1) Malaysia Muhammad Hafiz Hashim 17–14, 15–8
1 2005 Malaysia Mở rộng (2) Trung Quốc Lâm Đan 17–15, 9–15, 15–9
1 2004 Trung Hoa Đài Bắc Mở rộng Malaysia Quan Minh Hồng 15–4, 15–10
2 2004 Singapore Mở rộng Đan Mạch Kenneth Jonassen 15–17, 4–15
1 2004 Malaysia Mở rộng (1) Hàn Quốc Park Sung-hwan 15–13, 15–12
1 2003 Malaysia Satellite Malaysia Quan Minh Hồng 15–7, 15–9
2 2003 India Satellite Malaysia Dương Giai Tân 5–15, 13–15
2 2003 Malaysia Mở rộng Trung Quốc Trần Hoành 9–15, 5–15